Chi phí vốn tăng, lãi suất cho vay chịu sức ép
Sau một tháng đi ngang, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 8 tăng lên 10,7%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng khoảng 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Diễn biến này phần nào phản ánh tác động từ cuộc đua huy động vốn khi nhiều ngân hàng liên tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi để thu hút dòng tiền.
Theo biểu công bố của các ngân hàng, nhóm quốc doanh như BIDV và Vietcombank có lãi suất cho vay bình quân khoảng 7,4-7,6%/năm. Trong khi đó, tại một số ngân hàng thương mại cổ phần như Eximbank, KienlongBank và MBV, mức lãi suất niêm yết dao động khoảng 8,4-9,5%/năm.
Tuy nhiên, chi phí thực tế mà khách hàng phải trả có thể cao hơn tùy hồ sơ tín dụng, thời hạn vay, mục đích vay và tài sản bảo đảm. Lãi suất giải ngân tại nhóm Big4 phổ biến trong khoảng 9-10,5%/năm, trong khi một số ngân hàng tư nhân có thể áp dụng mức lên tới 12%/năm.
Đáng chú ý, lãi suất cho vay ngắn hạn đối với một số lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa hay ứng dụng công nghệ cao cũng đã tăng trong tháng 8, lên mức trần 4%/năm theo quy định.
Ở phân khúc bán lẻ, áp lực lãi suất còn rõ nét hơn. Lãi suất vay mua nhà tại một số ngân hàng đã vượt 14%/năm, trong khi vay mua ô tô có thể vượt 15%/năm.
Theo Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, mức lãi suất ưu đãi cho vay mua nhà khoảng 8,2-10,5%/năm thường chỉ được áp dụng trong 6-24 tháng đầu. Sau đó, khoản vay chuyển sang lãi suất thả nổi với biên độ cộng thêm khoảng 3,3-3,5%/năm so với lãi suất cơ sở.
Chứng khoán SSI nhận định, khi lãi suất thả nổi phổ biến ở mức 12-14%/năm, nhu cầu vay mua nhà đã chững lại rõ rệt, kể cả tại những ngân hàng còn dư địa tín dụng. Đồng thời, các ngân hàng đang có xu hướng dịch chuyển cơ cấu cho vay sang trung và dài hạn.
Cuộc đua huy động vốn chưa hạ nhiệt
Một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến lãi suất cho vay khó giảm là chi phí vốn đầu vào tăng.
Theo Ngân hàng Nhà nước, lãi suất tiền gửi bình quân kỳ hạn 6-12 tháng đã liên tục tăng từ tháng 10/2025 và hiện ở khoảng 7,8%/năm. Trên thị trường, lãi suất niêm yết kỳ hạn 6-12 tháng có nơi lên tới 8%/năm, trong khi kỳ hạn trên 24 tháng đạt khoảng 8,1%/năm.
Trên thực tế, mức lãi suất dành cho một số nhóm khách hàng còn cao hơn thông qua các chương trình cộng biên độ, ưu đãi dành cho khách hàng mới hoặc các chương trình huy động theo từng thời điểm.
Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng hiện dao động khoảng 8,5-9,3%/năm. Với kỳ hạn 12 tháng, mức thỏa thuận có thể vượt 9,7%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 1 tỷ đồng. Một số ngân hàng nhỏ thậm chí trả lãi gần 10%/năm đối với khoản tiền gửi trên 10 tỷ đồng, đi kèm điều kiện không tất toán trước hạn.
Tại MBV, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng đạt 9,46%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng là 9,4%/năm đối với khoản tiền từ 10 tỷ đồng. Tại Vikki Bank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã tăng lên 9,4%/năm, sau khi duy trì ở mức 9,2%/năm từ cuối tháng 7/2026 đối với khoản gửi từ 200 triệu đồng.
Không chỉ tiền gửi, chi phí huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá cũng tăng. Theo VIS Ratings, lãi suất bình quân trái phiếu ngân hàng đã lên khoảng 8,7%.
Chi phí đầu vào tăng khiến các ngân hàng phải cân đối giữa mục tiêu giữ chân người gửi tiền và khả năng duy trì biên lợi nhuận. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất cho vay chưa thể giảm nhanh dù cơ quan quản lý liên tục yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí.

Cung - cầu vốn tiếp tục là điểm nghẽn
Gốc rễ của đợt tăng lãi suất được cho là đến từ sự lệch pha giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Chênh lệch giữa hai nguồn vốn có thời điểm lên tới gần 2 triệu tỷ đồng.
Đến ngày 22/8/2026, huy động vốn bằng tiền đồng tăng 8,77%, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng 8,38%. Điều này cho thấy cán cân nguồn vốn đã có dấu hiệu cải thiện. Tuy nhiên, nhu cầu vốn thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm, khiến áp lực huy động vẫn còn lớn.
TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng tín dụng tăng nhanh trong khi các kênh đầu tư như vàng, chứng khoán, bất động sản và tài sản số cạnh tranh để thu hút dòng tiền khiến ngân hàng phải duy trì lãi suất tiết kiệm ở mức cao.
Một vấn đề khác nằm ở kỳ hạn nguồn vốn. Trong khi phần lớn nguồn huy động của ngân hàng có kỳ hạn ngắn, nhu cầu vốn dành cho các dự án hạ tầng, công nghệ và mở rộng sản xuất lại chủ yếu là trung và dài hạn. Sự lệch pha này tạo thêm áp lực lên việc cân đối thanh khoản.
Tỷ giá và yếu tố quốc tế thu hẹp dư địa giảm lãi suất
Không chỉ chịu sức ép từ thị trường trong nước, lãi suất còn chịu tác động từ diễn biến tiền tệ quốc tế.
Việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất ngày 17/9/2026, theo thông tin trong báo cáo, được cho là tạo thêm áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, nhận định diễn biến này làm gia tăng áp lực từ đồng USD và thu hẹp dư địa giảm lãi suất điều hành.
Trong bối cảnh tỷ giá vẫn là yếu tố cần được theo dõi, việc giảm lãi suất trong nước quá nhanh có thể tạo thêm áp lực lên chênh lệch lãi suất giữa VND và USD, qua đó ảnh hưởng đến dòng vốn và thị trường ngoại hối.
Lãi suất có thể tạo đỉnh vào cuối năm?
Về triển vọng, Chứng khoán Bảo Việt dự báo mặt bằng lãi suất trong tháng 9/2026 nhiều khả năng đi ngang khi áp lực thanh khoản và nhu cầu tín dụng cuối năm vẫn ở mức cao.
Các tổ chức phân tích như SSI, Yuanta và Chứng khoán Rồng Việt cũng cho rằng lãi suất cho vay khó giảm sâu trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu các biện pháp điều tiết thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước phát huy hiệu quả, mặt bằng lãi suất cho vay có thể tiến tới vùng đỉnh trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026.
Ở chiều hỗ trợ, 12 ngân hàng thương mại đã triển khai các gói tín dụng ưu đãi với tổng quy mô khoảng 408.000 tỷ đồng, áp dụng mức lãi suất thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, công nghệ cao, kinh tế số và các dự án xanh.
Cùng với đó, cơ quan quản lý đang sử dụng các công cụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Như vậy, thời điểm lãi suất cho vay hạ nhiệt sẽ phụ thuộc đáng kể vào khả năng cải thiện thanh khoản và cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Nếu huy động vốn tiếp tục tăng nhanh hơn tín dụng, áp lực chi phí đầu vào giảm và tỷ giá ổn định, dư địa giảm lãi suất có thể được mở rộng. Ngược lại, nhu cầu vốn tăng mạnh trong những tháng cuối năm vẫn có thể khiến mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao.
Lam Anh